Lịch sử hình thành Tiếng Việt nam bộ

1. CÁC PHƯƠNG NGỮ TIẾNG VIỆT: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH & SỰ KHÁC BIỆT VỀ NGỮ ÂM, TỪ VỰNG

1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành các phương ngữ tiếng Việt

(1) Ngôn ngữ là một khái niệm trừu tượng chỉ phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Vì con người bao gồm các cộng đồng người cụ thể, nên ngôn ngữ cũng được biểu hiện thông qua ngôn ngữ của các cộng đồng người cụ thể. Nếu cộng đồng người đó là một tộc người, chúng ta có ngôn ngữ tộc người. Và trong phạm vi một tộc người, ngôn ngữ lại được biểu hiện thông qua các phương ngữ địa lý (geographical dialects) và các phương ngữ xã hội (social dialects). Các phương ngữ địa lý lại có thể bao gồm một số thổ ngữ (local dialects, patois) có địa bàn phân bố hẹp hơn. Viết lại lịch sử hình thành, nhận diện sự khác biệt về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và về vai trò của các phương ngữ địa lý, là nhiệm vụ của phương ngữ học địa lý (geographical dialectology).

Tiếng Việt là một ngôn ngữ tộc người, một ngôn ngữ quốc gia có tính thống nhất cao. Tuy nhiên, sự gián đoạn về thời gian và không gian trong lịch sử phát triển của tiếng Việt cũng đã gây ra nhiều điểm khác biệt trong tiếng nói của các vùng miền, làm hình thành các phương ngữ và thổ ngữ. Theo quan điểm của đa số các nhà nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt, có thể chia tiếng Việt thành 3 phương ngữ chính:

– Phương ngữ Bắc: phân bố ở Bắc Bộ.

– Phương ngữ Trung: phân bố ở Bắc Trung Bộ (Thanh – Nghệ – Tĩnh) và Trung Trung Bộ (Bình – Trị – Thiên).

– Phương ngữ Nam: phân bố ở Nam Trung Bộ (từ Đà Nẵng đến Bình Thuận) và Nam Bộ.

Giữa 3 phương ngữ chính có hai vùng chuyển tiếp: tiếng Việt Thanh Hoá thuộc phương ngữ Trung nhưng có những yếu tố chuyển tiếp từ phương ngữ Bắc; tiếng Việt Quảng Nam thuộc phương ngữ Nam nhưng có những yếu tố chuyển tiếp từ phương ngữ Trung.

(2) Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt trước hết do nguyên nhân lịch sử. Trong suốt thời Bắc thuộc và giai đoạn đầu của thời tự chủ, vùng trung du và đồng bằng Bắc Bộ là nơi cư dân Việt-Mường tiếp xúc thường xuyên với ngôn ngữ, văn hoá của người Tày, người Hán. Vì vậy trong tiếng Việt-Mường vùng này đã diễn ra những biến đổi sâu sắc về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, theo hướng cởi bỏ các đặc trưng Mon-Khmer, khoác lên những đặc trưng của các ngôn ngữ Tày-Thái và ngôn ngữ Hán: rơi rụng âm tiết phụ, rơi rụng phụ tố, biến đổi phụ âm cuối, hình thành thanh điệu. Những biến đổi này diễn ra ở trung du và đồng bằng nhanh hơn ở miền núi, ở Bắc Bộ nhanh hơn ở Bắc Trung Bộ. Kết quả là vào cuối thời Bắc thuộc, tiếng Việt và tiếng Mường đã chia tách thành hai ngôn ngữ, tiếng Việt ở Bắc Bộ và tiếng Việt ở Bắc Trung Bộ cũng chia tách thành hai phương ngữ. Đến khoảng thế kỷ XII, tiếng Việt ở Bắc Bộ đã hình thành đến 6 thanh điệu; trong khi tiếng Việt ở Bắc và Trung Trung Bộ từ Thanh Hoá đến Bắc Quảng Trị chỉ có 5 thanh điệu, thậm chí một số thổ ngữ cổ ở vùng này chỉ có 4 thanh điệu. Tương tự, từ vựng gốc Tày và gốc Hán rất phát triển trong tiếng Việt Bắc Bộ; trong khi từ vựng gốc Mon-Khmer lại được bảo lưu rất nhiều trong tiếng Việt ở Bắc và Trung Trung Bộ.

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVII, khi lãnh thổ Đại Việt dần dần mở rộng đến Bình Định (1471) và Bình Thuận (1697), thì di dân người Việt đến định cư trên vùng đồng bằng Nam Trung Bộ hầu hết đều có nguồn gốc từ Bắc và Trung Trung Bộ. Từ đó, phương ngữ tiếng Việt ở Nam Trung Bộ đã hình thành trên cơ sở kế thừa các đặc điểm của phương ngữ Trung và tiếp biến các đặc điểm của tiếng Chăm.

Từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XVIII, khi lãnh thổ Đại Việt tiếp tục mở rộng đến hết vùng đất Nam Bộ ngày nay, thì di dân người Việt đến định cư trên vùng đồng bằng Nam Bộ hầu hết đều có nguồn gốc từ vùng “Ngũ Quảng”, tức Quảng Bình – Quảng Trị – Quảng Đức – Quảng Nam – Quảng Ngãi, mà đông đảo nhất là bộ phận người Việt cư ngụ ở Nam Trung Bộ, liền kề với Nam Bộ. Từ đó, phương ngữ tiếng Việt ở Nam Trung Bộ đã mở rộng địa bàn đến Nam Bộ, tiếp biến thêm một số đặc điểm của tiếng Hoa, tiếng Khmer để trở thành phương ngữ Nam. Phương ngữ Nam gồm hai bộ phận: Nam Trung Bộ và Nam Bộ, có đôi chút khác biệt với nhau. Tuy nhiên, về cơ bản hai bộ phận đó khá tương đồng, nên đa số các nhà nghiên cứu không tách chúng thành hai phương ngữ.

Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt còn do nguyên nhân địa lý. Do hình thể đất nước trải dài từ Bắc xuống Nam, bị ngăn cách bởi các dãy núi ngang ở miền Trung như Tam Điệp, Hoành Sơn, Bạch Mã… là những rào cản tự nhiên mà thời xưa rất khó vượt qua, nên cho đến trước thế kỷ XX, giao lưu giữa các đồng bằng Trung Bộ với các vùng miền khác rất khó khăn. Trong suốt nhiều thế kỷ, quan hệ giao lưu phổ biến ở các đồng bằng Trung Bộ chỉ là giao lưu nội vùng giữa tiếng Việt, văn hoá Việt với ngôn ngữ, văn hoá của các tộc người thiểu số cộng cư. Kế đó là quan hệ giao lưu với nước ngoài, thông qua một số ít cảng thị như Hội An, Đà Nẵng. Sau nữa là quan hệ giao lưu giữa đồng bằng Nam Trung Bộ với đồng bằng Nam Bộ thông qua đường biển, tận dụng hai mùa gió Nồm và gió Bấc. Chính vì vậy, dải đất Trung Bộ là nơi hình thành nhiều phương ngữ và thổ ngữ nhất nước ta. Tuy nhiên, nhờ duy trì được quan hệ giao lưu tương đối thường xuyên nên tiếng Việt của đồng bằng Nam Trung Bộ và đồng bằng Nam Bộ không khác nhau nhiều.

Sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt còn do nguyên nhân kinh tế. Văn hoá Việt nguyên là một nền văn hoá gốc nông nghiệp với những đặc trưng chính yếu là định cư thành làng xóm, canh tác lúa nước ở đồng bằng, tự cung tự cấp, v.v. Do đó, sự giao lưu giữa các nhóm dân cư phần nhiều chỉ giới hạn trong những nhu cầu trao đổi một số sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp mà các làng xóm, làng nghề trong vùng sản xuất ra. Vì vậy, sự phân hoá về ngôn ngữ diễn ra nhanh hơn rất nhiều so với những tộc người lấy du mục hoặc thương nghiệp làm hoạt động kinh tế chính yếu. Do hoạt động du mục và do hoạt động giao thương, ở những tộc người đó xu hướng thống nhất ngôn ngữ mạnh hơn xu hướng phân ly.

Tóm lại, sự hình thành các phương ngữ tiếng Việt có bốn nguyên nhân chính: nguyên nhân lịch sử, nguyên nhân địa lý, nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân tiếp xúc ngôn ngữ – văn hoá. Ngoài ra còn có những nguyên nhân khác như nguyên nhân xã hội (sự kiêng kỵ, sự kỵ huý), nguyên nhân ngôn ngữ (sự biến âm, biến nghĩa)…

1.2. Sơ lược về sự khác biệt ngữ âm, từ vựng giữa các phương ngữ tiếng Việt

(1) Một khi vẫn còn là phương ngữ thì các phương ngữ vẫn có những đặc trưng chung về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, hợp thành bộ mã giao tiếp chung, thống nhất. Nhờ đó, các cộng đồng phương ngữ mới có thể giao tiếp với nhau và nhận ra mình cùng thuộc về một cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng xã hội lớn hơn. Các phương ngữ tiếng Việt cũng vậy: rất thống nhất với nhau về ngữ pháp, và cùng sở hữu chung một số phương tiện ngữ âm và từ vựng. Nhưng bên cạnh đó, mỗi phương ngữ lại sử dụng một số phương tiện từ vựng, ngữ âm riêng, phân biệt với các cộng đồng phương ngữ khác. Mặt khác, tác dụng, ảnh hưởng của từng phương ngữ đối với ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ quốc gia cũng có khác nhau.

(2) Về ngữ âm, chỉ phương ngữ Bắc mới có đủ 6 thanh; còn từ Thanh Hoá cho đến hết Nam Bộ, chỉ có 5 thanh, vì 2 thanh HỎI – NGÃ không chia tách. Ngoài ra, ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, có ít nhất 5 thổ ngữ chỉ sử dụng 4 thanh. Trong phương ngữ Bắc, các cặp phụ âm đầu R – D/GI, S – X, TR – CH không chia tách; nhưng từ Nghệ An cho đến hết Nam Bộ, các cặp phụ âm này chia tách tương đối rõ. Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung, và cả vùng Quảng Nam, đều phân biệt hai phụ âm V – D/GI; nhưng từ Quảng Ngãi cho đến hết Nam Bộ, phụ âm V được phát âm như phụ âm D/GI; v.v. [1]

(3) Về từ vựng, phương ngữ Bắc tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Tày và gốc Hán hơn các phương ngữ Trung, Nam. Phương ngữ Trung bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm hơn phương ngữ Bắc. Phương ngữ Nam đặc biệt là tiếng Việt Nam Bộ thì ngoài hai đặc điểm bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm, còn có thêm đặc điểm là tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Hoa và gốc Khmer. V.v.

2. TIẾNG VIỆT NAM BỘ: ĐẶC TRƯNG NGỮ ÂM, TỪ VỰNG

2.1. Các đặc trưng ngữ âm của tiếng Việt Nam Bộ

(1) Chỉ có 5 thanh điệu, trong đó thanh gọi là thanh HỎI thật ra tương đương với 2 thanh HỎI – NGÃ trong phương ngữ Bắc. Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở hai thanh HỎI – NGÃ hơn so với người Việt Bắc Bộ.

(2) Các cặp phụ âm đầu R – D/GI, S – X, TR – CH được chia tách tương đối rõ. Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ ít viết sai chính tả ở các phụ âm này hơn so với người Việt Bắc Bộ. Tuy nhiên, mức độ chia tách không đều. Ở một số nơi có tiếp biến với tiếng Hoa (Long An, Tiền Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang…), phụ âm ngoặt lưỡi R biến thành phụ âm G hoặc J, phụ âm ngoặt lưỡi S biến thành phụ âm X, phụ âm ngoặt lưỡi TR biến thành phụ âm CH: “Bắt con cá GÔ bỏ GỔ, nó nhảy GÔỘC GÔỘC!”; “Cả bó JAO JẦY mà CHẢ có năm CHĂM đồng bạc, làm XAO mà bán!”.

(3) Không có 3 phụ âm xát V, D/GI, CH, thay vào đó là 2 phụ âm tắc J, CH. Phụ âm J tương ứng với V, D/GI, còn phụ âm CH tắc tương ứng với CH xát trong phương ngữ Bắc. Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các phụ âm V, D/GI hơn so với người Việt Bắc Bộ.

(4) Không có âm đệm U/O, vì âm đệm bị rơi rụng: buýt => BÍT; chuyên => CHIÊNG; duyên => DIÊNG; đoàn => ĐOÒNG/ĐÀNG; goá => JÁ; khuya => PHIA; luyện => LIỆNG; noãn => NOÕNG; nhuyễn => NHIỄNG; phuy => PHI; roảng => ROỎNG; soát => SOÓC; toàn => TOÒNG/TÀNG; truyền => TRIỀNG;thoáng => THOÓNG; xoa => XO… Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các tiếng có âm đệm hơn so với người Việt Bắc Bộ.

(5) Hình thành phụ âm xát môi-mạc hữu thanh W từ sự hoà nhập của âm đệm vào 4 phụ âm đầu K, NG, H, ? (phụ âm tắc thanh hầu không được thể hiện trên chữ viết): qua => WA; ngoại => WẠI; hoãn => WÃNG; oà => WÀ. Đặc điểm này cũng khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở các tiếng có âm đệm hơn so với người Việt Bắc Bộ.

(6) Số lượng và cách phân bố các cặp nguyên âm đối lập dài – ngắn khác hẳn phương ngữ Bắc. Đặc điểm này khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở phần vần hơn so với người Việt Bắc Bộ.

– Có những cặp nguyên âm đối lập dài – ngắn tương tự phương ngữ Bắc, nhưng khác về quy tắc kết hợp với phụ âm cuối: I DÀI (y, im, ip) – I NGẮN (in,inh, it, ich); Ơ DÀI (ơ, ơn, ên, ênh) – Ơ NGẮN (ân, âng, ât, âc); A DÀI (a, an, ang) – A NGẮN (ăn, ăng, anh).

– Có các nguyên âm Ê DÀI (ê, êp, êm), E DÀI (e, en, eng), nhưng không có các nguyên âm Ê NGẮN (ênh, êch), E NGẮN (anh, ach) để đối lập với Ê DÀI (ê, ên, êt), E DÀI (e, en, et) như trong phương ngữ Bắc.

– Có những nguyên âm ngắn không có trong phương ngữ Bắc, đi đôi với các nguyên âm dài tương ứng: Ư DÀI (ư) – Ư NGẮN (ưn, ưng, ưc); U DÀI (u) – U NGẮN (un, ung, uc); Ô DÀI (ô, ôn, ôông) – Ô NGẮN (ông, ôc); O DÀI (o, on, oong) – O NGẮN (ong, oc);…

(7) Số lượng phần vần ít hơn phương ngữ Bắc, do sự đồng nhất của các vần: ên = ênh; êt = êch; iêt = iêc; im = iêm; in = inh; ip = iêp; it = ich; iu = iêu;oc = ôc; oi = ôi; om = ôm = ơm; ong = ông; op = ôp = ơp; ưn = ưng; ươi = ưi; ươt = ươc; ươu = ưu = u; ưt = ưc; v.v. Đặc điểm này làm gia tăng hiện tượng đồng âm dị nghĩa, đồng âm dị tự, và khiến cho người Việt Nam Bộ thường viết sai chính tả ở phần vần hơn so với người Việt Bắc Bộ.

(8) Bảo lưu nhiều hình thức ngữ âm đặc thù, thường là hình thức ngữ âm cổ:

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

bệnh – bịnh

cảnh – kiểng

cục – cuộc

cưỡi – cỡi

chân – chưn

chấy – chí

chính – chánh

chu – châu

chuột nhắt – chuột lắt

dĩa – nĩa

doanh – dinh

đắt – mắt

đĩa – dĩa

giật – giựt

giầu – trầu

gio – tro

giun – trùn

gửi – gởi

hạt – hột

hoa – huê

hoà – huề

hoàn – huờn

hoãn – huỡn

hoàng – huỳnh

hồng – hường

hôn – hun

kênh – kinh

kính, gương – kiếng

ngẩng – ngửng

ngửi – hửi

nhất – nhứt

nhật – nhựt

nhọ – lọ

nhòm – dòm

quyền – quờn

rết – rít

tầng – từng

tôi – tui

thật – thiệt

thối – thúi

thư – thơ

thư ký – thơ ký

trượt – trợt

vàng anh – hoàng oanh

vào – vô

vẹt – két

v.v.

v.v.

 

2.2. Các đặc trưng từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ

(1) Sự phong phú đến mức cực đại về các từ ngữ biểu thị đồng bằng sông nước: Do điều kiện địa lý đặc thù nên cách thức hoạt động sản xuất của cư dân Nam Bộ mang đặc trưng đồng bằng sông nước rõ nét nhất, đồng thời cũng đa dạng nhất so với tất cả các vùng miền khác. Mạng lưới kinh rạch chằng chịt chính là nguồn cung cấp nước ngọt và phù sa cho đồng ruộng, rửa phèn ở vùng trũng, là tiền đề phát triển các nghề đánh bắt thuỷ sản, nuôi trồng thuỷ sản, buôn bán trên sông, vận tải đường sông, v.v. Cho nên, đặc trưng thứ nhất về từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ gắn liền với đặc trưng văn hoá nơi đây chính là sự phong phú đến mức cực đại về các từ ngữ chỉ các loại hình và hoạt động sông nước: sông, lạch, kinh, rạch, xẻo, ngọn, rọc, tắt, mương, rãnh, ao, hồ, đìa, hào, bàu,đầm, láng, lung, bưng, biền, trấp, vũng, trũng, gành, xáng, vịnh, vàm, cửa, đảo, hòn, cù lao, cồn, bãi, mũi, mũi tàu…; nước lên, nước lớn, nước nhửng, nước đứng, nước ương, nước giựt, nước ròng, nước xiết, nước xuống, nước rặc, nước nhảy, nước chụp, nước rông, nước nổi, nước lụt, nước lềnh, nước rút,nước cạn, nước xoáy, nước ngược, nước xuôi… Tương tự là sự phong phú về tên gọi các giống lúa, các loại gạo, các loại trái cây là sản phẩm gieo trồng trên hai vùng châu thổ sông Đồng Nai và sông Cửu Long rộng lớn phì nhiêu (Nam Bộ sản xuất đến 50% lúa và 70% trái cây cả nước).

(2) Sự bảo lưu từ ngữ gốc Mon-Khmer và tiếp biến từ ngữ gốc Chăm, Hoa, Khmer, Pháp, Mỹ…: Phát triển trên một vùng văn hoá đa tộc người, giao lưu tiếp biến văn hoá diễn ra sôi động, từ vựng của tiếng Việt Nam Bộ có đặc trưng thứ hai gắn liền với đặc trưng văn hoá của vùng, đó là sự bảo lưu nhiều từ ngữ gốc Mon-Khmer, sự tiếp biến nhiều từ ngữ gốc Chăm, gốc Hoa, gốc Khmer, gốc Pháp, gốc Mỹ… Hệ quả là làm hình thành trong tiếng Việt Nam Bộ một bộ phận từ vựng đặc thù, khác với phương ngữ Bắc:

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

anh/chị cả – anh/chị hai

ảnh – hình

báo – beo

bát – chén

béo – mập

bí đỏ – bí rợ

bí ngô – bí đao

bít tất – vớ

bơi, lội – lội

bút – viết, bút

cà chua – cà tô-mát

cá quả, cá tràu – cá lóc

ca-vát – cà-vạt, cà-la-oách

căng-gu-ru – chuột túi

cắt tóc – hớt tóc

cốc – tách

cốc vại – ly cối

cừu – trừu

chăn – mền

chân – chưn, cẳng, giò

chén – chung

chèo – chèo, bơi

chiếu bóng – chớp bóng

chum – lu, khạp

chuột chù – chuột xạ

chuột rút – vọp bẻ

chụp ảnh – chụp hình

dầu hoả – dầu hôi

dầu nhờn – nhớt

dưa bở – dưa gang

dứa – thơm

đánh điện – đánh dây thép

đánh rắm – địt

đào lộn hột – điều

đậu hủ – tàu hủ

đi ngoài, đi đồng – đi cầu

điêu – xạo

định – tính

đỗ – đậu

đồng hồ điện – công-tơ điện

đũa cả – đũa bếp

được – được, đặng

gáy – ót

gầy – ốm

giống – giống, in

hắc lào – lác

hoa – bông

hoa đại – bông sứ

hòm – rương

hòm thư – hộp thư

hổ – cọp

hố xí, nhà xí – cầu tiêu

kem – cà-rem

khăn tay – khăn mu-soa

lại sức – lợi nghỉnh

làm – làm, mần

lọ – chai

lợn – heo

lúa, thóc – lúa

mác – mạc

màn – mùng

máy ảnh – máy chụp hình

mặc, vận – bận

mì chính – bột ngọt

muỗm, quéo – xoài

mướp đắng – hủ qua, khổ qua

na – mảng cầu

nói – nói, rằng

nón, mũ – nón   

ngã – té

ngan – vịt xiêm

ngày kia – ngày mốt

ngòi, lạch – rạch, xẻo, tắt

ngô – bắp

nhà cao tầng – nhà lầu, cao ốc

nhặt – lượm

nhẫn – cà rá, khâu

nhật báo – nhựt trình

nhìn – ngó

ô – dù

ốm, đau – đau

phó cạo – thợ hớt tóc

phó cối – thợ cối

phó nhòm – thợ chụp hình

phóng viên – ký giả

quả – trái

quan tài, áo quan – hòm

quần bò – quần jeans

rặt – toàn

sắn – khoai mì

táo – bôm

tắc-te – chuột

té – tạt

tem – cò

thái – xắt

thi đỗ – thi đậu

thi trượt – thi rớt

thìa – muỗng

thợ nề, thợ xây – thợ hồ

thuê – mướn

thuyền – ghe, xuồng

thương, yêu – thương

trông – ngóng

trống rỗng – tồng phộc

vở – tập

vung – nắp

vữa – hồ

vừng – mè

xà-phòng – xà-bông

xe quệt – cộ

xem – coi

xiếc – xiệc

yểng – nhồng

? – bữa kia

? – lai rai

? – nhậu

v.v.

v.v.

Đối với các từ ngữ chỉ các phương tiện đi lại mới du nhập từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX thì sự khác biệt giữa tiếng Việt Nam Bộ với phương ngữ Bắc hầu như là tuyệt đối, cho thấy hai vùng đã tiếp nhận các sản phẩm này của phương Tây một cách hoàn toàn độc lập với nhau:

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

Phương ngữ Bắc – Tiếng Việt Nam Bộ

bàn đạp – pê-đan

bi – đạn

chắn bùn – vè

chắn xích – cạc-te

chuông – chuông

dừng xe – ngừng xe

đà – trớn

đèn – đèn

đèo hàng – ba-ga

đi nhờ – quá giang

đĩa – dĩa

đỗ xe – đậu xe

đùi – giò gà

đường băng – phi đạo

đường ray – đường rầy

đường, phố – đường, lộ

khung – sườn

líp – líp

lốp – vỏ

lùi xe – de xe

máy bay – tàu bay

nan hoa, đũa – căm

nổ máy – đề-pa

ô-tô – xe hơi

ổ bi, vòng bi – bạc đạn

ống xả – ống pô

phà – bắc

phanh – thắng

phanh, hãm – thắng

quảng trường – công trường

rẽ – quẹo

rơ-moóc – rờ-moọc

săm – ruột

sân bay – phi trường, phi cảng

tàu bò – xe tăng

tàu chở máy bay, tàu sân bay – hàng không mẫu hạm

tàu hoả – hoả xa, xe lửa

tàu ngầm – tàu lặn

tàu vũ trụ – phi thuyền

tay lái – ghi-đông

thanh truyền động – cây dên

trục – cốt

van – vòi

vành – niềng

xe bọc thép – xe thiết giáp

xe ca, ô tô ca – xe hàng

xe ca, ô tô ca, xe khách – xe đò

xe con, ô tô con – xe du lịch

xe chữa cháy – xe cứu hoả

xe đạp – xe máy

xe lăn đường, xe lu – xe hủ lô

xe máy – xe hai bánh gắn máy, xe gắn máy

xe quân sự – quân xa

xe vận tải – xe cam-nhông

xích – sên

? – chén

? – côn

? – đùm

? – phuộc

v.v.

(3) Sự thay thế và lược bỏ đại từ ẤY: Trong tiếng Việt, ẤY là một đại từ đi liền sau danh từ để biểu thị một không gian, thời gian, sự vật hoặc con ngườikhiếm diện khi hội thoại diễn ra: “bên ấy”, “hôm ấy”, “cái ấy”, “ông ấy”… Khi xuất hiện trên văn bản viết, đại từ ẤY thường được ghi là “ấy”, hoặc đôi khi là “í”.Nhưng trong thực tế hội thoại, tất cả các phương ngữ Bắc, Trung, Nam đều nhược hoá đại từ này. Trong các phương ngữ Bắc, Trung, ẤY thường bị nhược hoá thành âm tiết Í, phát âm không có trọng âm: bên í, hôm í, cái í, ông í…

Trong phương ngữ Nam bao gồm Nam Bộ, ẤY càng bị nhược hoá mạnh hơn, hoà nhập hẳn vào danh từ đứng trước dưới dạng THANH ĐIỆU HỎI: bển,đẳng, trỏng, ngoải, trển, hổm, nẳm, ổng, bả, chả, mẻ, ảnh, chỉ, ẻm, cẩu, mở, dỉ, dưởng, vả, thẳng, cỏn, thẩy, cổ… Bằng cách đó, trong phương ngữ Nam và tiếng Việt Nam Bộ đã hình thành một nhóm đại từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi, không có trong các phương ngữ Bắc, Trung.

Trong trường hợp danh từ đứng trước mang các thanh hỏi, ngã, sắc như khoảng, dưới, tháng, bữa, cái, bác, chú, thím, cháu… khiến cho đại từ ẤY không thể hoà nhập được, phương ngữ Nam và tiếng Việt Nam Bộ sẽ chọn một trong ba cách:

– Thay thế ẤY bằng một đại từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi: “Bà đã gặp bác Năm rồi, vậy ổng nói sao?”; “Bữa nay sắp hết tiền, bữa hổm anh chưa lãnh lương à?”…

– Thay thế ẤY bằng đại từ ĐÓ: “Bánh trái thì ở dưới đó chứ ở đâu, không lo kiếm mà cứ hỏi hoài?”; “Cu Tí không được nhõng nhẽo chú Tuấn nữa. Chú đó hổng phải là ba đâu ngheng!”…

– Lược bỏ ẤY: “Trên này bày biện xong rồi, ở dưới xong chưa?”; “Anh đừng có rủ thằng Út con chú Tám đi nhậu nữa, chú la đó!”…

(4) Ưu tiên sử dụng các từ xưng hô lâm thời: Trong tiếng Việt, từ xưng hô là một lớp từ vô cùng phức tạp, do 9 nhóm từ khác nhau hợp thành: danh từ thân tộc (cố, cụ, ông, bà, nội, ngoại, cha, mẹ, bố, u, me, ôông, mụ, bọ, mạ, mệ, ba, má, bác, chú, thím, cô, cậu, mợ, dì, dượng, anh, chị, em, con, cháu, họ, anh em, chị em, anh chị em, bà con, cô bác…); danh từ chỉ quan hệ xã hội (thầy, trò, bạn, đồng nghiệp, đồng chí, đồng bào, chiến hữu…); danh từ chỉ chức danh xã hội (tôi, tớ, tui, thủ trưởng, sếp, bác sĩ, đại tá…); danh từ chỉ người (ngài, ngươi, người, mình, vú, quý vị, chúng…); tên cá nhân (Nam, Hùng, Hoa, Tuyết…); tên con cháu (bố Cu, mẹ Hĩm…); đại từ nơi chốn (đây, ấy, bên í, đằng í, bên bển, đằng đó…); đại từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi (bển, đẳng, trỏng, ngoải,trển, ổng, bả, chả, mẻ, ảnh, chỉ, ẻm, cẩu, mở, dỉ, dưởng, vả, thẳng, cỏn, thẩy, cổ…); đại từ nhân xưng (tao, qua, ta, choa, mày, mi, bậu, bây, nó, hắn, y, va, gã,ả…). Trong số đó, chỉ có một nhóm từ xưng hô thực thụ duy nhất là các đại từ nhân xưng, còn lại đều là những nhóm từ xưng hô lâm thời. Nhưng chính các nhóm từ xưng hô lâm thời mới được ưu tiên sử dụng trong giao tiếp. Còn nhóm từ xưng hô thực thụ chỉ được sử dụng trong hoàn cảnh giao tiếp thân mật hoặc suồng sã mà thôi.

Tiếng Việt Nam Bộ cũng như vậy. Tuy nhiên, về mặt này tiếng Việt Nam Bộ có ít nhất 4 điểm khác biệt với các phương ngữ Bắc, Trung:

– Trong nhóm danh từ thân tộc, nó không dùng bố, u, me, ôông, mụ, bọ, mạ, mệ, cậu (gọi người ngang hàng)…, nhưng sử dụng cố, cụ, ông, bà, nội,ngoại, cha, mẹ, ba, má, bác, chú, thím, cô, cậu, mợ, dì, dượng, anh, chị, em, con, cháu, họ, anh em, chị em, anh chị em, bà con, cô bác… để xưng hô. Một số vùng ở miền Tây chịu ảnh hưởng của tiếng Hoa còn sử dụng tía, củ, ý, chế, hia…

– Trong nhóm danh từ chỉ chức danh xã hội, nó không dùng tôi, tớ, chúng tôi, chúng tớ, bọn tôi, bọn tớ, nhưng sử dụng tui, tụi tui, sếp, bác sĩ, đại tá… để xưng hô.

– Sử dụng các đại từ có nghĩa khiếm diện mang thanh hỏi: bển, đẳng, trỏng, ngoải, trển, ổng, bả, chả, mẻ, ảnh, chỉ, ẻm, cẩu, mở, dỉ, dưởng, vả, thẳng,cỏn, thẩy, cổ… để xưng hô.

– Không dùng tên con cháu để xưng hô.

(5) Sử dụng các phó từ chỉ mức độ đặc thù: Bên cạnh các phó từ chỉ mức độ dùng chung với phương ngữ Bắc như thật, rất, lắm, quá, còn sử dụng các phó từ chỉ mức độ đặc thù Nam Bộ: lậng, hà, thiệt, ghê, hung, dữ, lung: “Căn nhà đó mắt ghê, tới tám tỷ lậng!”; “Nhà này rẻ thiệt, có tám cây hà!”; “Vụ này coi bộ rối hung!”; “Nó ăn dữ lắm!”; “Tui nghĩ lung lắm, nhưng mà chưa ra!”… Bên cạnh đó là các phó từ chỉ mức độ đi kèm với tính từ: dở ẹc, tối hù, sáng rỡ, dài thoòng, cụt ngủn, cao nhòng, lùn xủng, ốm nhom, mập lù…

(6) Sử dụng các ngữ khí từ đặc thù: Tiếng Việt Nam Bộ không sử dụng các ngữ khí từ thường gặp trong phương ngữ Bắc: hở, ư, nhỉ, nhé, cơ, ạ, ồ, ôi,giời ôi, thảo nào, bỏ bu… Thay vào đó, nó sử dụng các ngữ khí từ đặc thù Nam Bộ: hả, há, hé, héng, hèng chi, hôông, a, í, ngheng, nghôông, chèng ơi, chèng đéc ơi, mèng ơi, trời ơi, trời ơi là trời, dữ ác hôông, chết cha, chứ bộ…

(7) Sử dụng các quán ngữ đặc thù: Bên cạnh các quán ngữ dùng chung với phương ngữ Bắc, còn hình thành các quán ngữ đặc thù Nam Bộ: quá cỡ thợ mộc, quá xá quà xa, tận cùng bằng số, hết nước hết cái, mút chỉ cà tha, mút mùa Lệ Thuỷ, tan nát đời cô Lựu, tệ hơn vợ thằng Đậu, tiêu tán thoòng, hui nhị tỳ,xí lắt léo, ngủm cù đèo, cà kê dê ngỗng, trần ai khoai củ, bỏ đi Tám, hổng dám đâu…

  3. KẾT LUẬN

Tóm lại, tính đến nay, tiếng Việt Nam Bộ, một bộ phận của tiếng Việt thống nhất, đã có 4 thế kỷ hình thành, phát triển. Các yếu tố làm hình thành tiếng Việt Nam Bộ cũng là những yếu tố làm hình thành tập hợp cư dân ở nơi đây: di dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng và Nam Trung Bộ, người Chăm, ngườiKhmer, người Hoa. Người Pháp, người Mỹ, mặc dù đã rút đi sau khi kết thúc chiến tranh, nhưng cũng đã để lại nơi đây những dấu ấn sâu đậm về ngôn ngữ và văn hoá. Các nhóm cư dân ấy đã cung cấp cho nhau vốn liếng ngôn ngữ sẵn có của mình, đồng thời cùng nhau sáng tạo, phát triển vốn liếng ngôn ngữ sẵn có để nó có thể phản ánh không gian văn hoá mới và các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội gắn liền với không gian văn hoá mới. Chính vì vậy, tiếng Việt Nam Bộ ngày nay có những đặc trưng về ngữ âm và từ vựng rất khác biệt với phương ngữ Bắc và phương ngữ Trung, hai phương ngữ chính đầu tiên hình thành trong tiếng Việt. Hiện nay, sự khác biệt đó vẫn đang tiếp tục gia tăng. Đó là vì ở nước ta, từ trước đến nay, các luồng di dân chỉ diễn ra một chiều từ Bắc vào Nam. Và từ thời kỳ Đổi mới, hàng vạn người phương Tây, người phương Đông đã quay trở lại Việt Nam mà nơi thu hút nhất chính là Nam Bộ. Do đó, khác với tiếng Việt, văn hoá Việt ở miền Bắc, miền Trung, tiếng Việt cũng như văn hoá Việt ở Nam Bộ có điều kiện để phát triển, biến đổi nhanh hơn.

TS. LÝ TÙNG HIẾU

<

p style=”text-align: left;” align=”center”>(Khoa Văn hoá học, Trường Đại học KHXH & NV TP.HCM)

Comments

comments

Xem Thêm